Thứ Ba, tháng 7 31, 2007

Hát đủ loại file

Cách để máy bạn hát được đủ dạng file nhạc, hình ảnh
Để làm việc này :
- Bạn đến http://www.free-codecs.com, download K-lite codec pack, Quicktime AlternativeReal Alternative.
- Khi :
-- cài K-lite codec pack, ở bước “Select component” , bạn chú ý chọn tất cả các mục ở khu vực: DirectShow video filters, DirectShow Audio filtersDirectShow source filters. Mũi tên trên hình đang chỉ vào khu vực “DirectShow video filters”. Bạn hãy kéo thanh cuộn xuống phía dưới thì sẽ thấy các khu vực còn lại.
-- Còn với QuickTime Real Alternative, bạn chỉ cần nhấn Next là được

Nói thêm:
-
Hầu hết các phần mềm nghe nhạc hiện nay như WMP, MPC, JetAudio đều sử dụng các filter DirectShow để hát các file nhạc. Mỗi dạng file cần các filter phù hợp cho nó. Muốn xem nhiều loại file nhạc khác nhau thì mình cần phải cài đủ các filter cần thiết.
-Direct Show ra đời vì muốn đơn giản hóa việc xử lý âm thanh, hình ảnh trên máy tính cũng như tăng độ tương thích. Mỗi lần xử lý(nghe nhạc,xem phim) thì ta đang tạo 1 đồ thị GraphDirectShow. Mỗi phần tử nhỏ nhất là 1 filter. Chữ này nghĩa gốc là bộ lọc. Bạn có thể nghĩ tới bộ lọc tăng màu sáng, v.vv như trong photoshop. Nếu nghĩ vậy là đúng! Nhưng 0 hẳn bộ lọc phải : co dãn, làm sắc nét, làm mịn da,...
Để xem phim trên direct show thì cần ít nhất là 4 filter
- Source filter và Splitter : Source filter đọc file. Mọi người thấy là khi xem phim thì ta chỉ có 1 file nhưng lại có âm thanh, hình ảnh, phụ đề. Splitter filter sẽ tách các thứ này ra. Có 1 số filter bao gồm 2 filter này luôn
- Decoder filter: dĩ nhiên phải có audio decoder filter, video decoder filter, subtitle filter. Các filter này nhận dữ liệu từ Split filter
- Render filter: cái này là màn hình, soundcard.
Ta thấy mỗi dạng file có cách lưu trữ hình ảnh, âm thanh riêng. Có cái thì để âm thanh ở đằng trước, có cái thì để đằng sau. Mở 1 file ra và biết là âm thanh nằm đằng trước nhưng byte đầu tiên của file chưa chắc mang thông tin âm thanh. Tức là nằm đằng trước nhưng chính xác làm nằm ở đâu cũng là vấn đề. Bởi vậy, với mỗi dạng file(wmv, mkv, mp4, mov,,.,) cần có các Source filter riêng. Rõ ràng làm cách này thì Decoder chả cần biết là dạng file gì, chả cần biết âm thanh nằm chỗ nào. Nó chỉ biết việc duy nhất là giải mã. Đưa thì nó coi có đúng là loại mình có thể giải mã thì làm, nếu 0 thì thôi!
Tương tự, render làm cho việc xài màn hình, soundcard gì 0 quan trọng nữa! Directshow có cơ chế như tui đã nói ở trên: coi có giải mã được hôn, có đọc được hôn? Nếu được thì làm nhiệm vụ của mình, 0 thì thôi! Cái này cũng đơn giản ! Ai có học lập trình hướng đối tượng thì có thể hiểu! Mấy cái đó đơn giản là thuộc tính của đối tượng
Khi cài K-lite, ở bước chọn các thành phần thì ta thấy có 1 số có nhiều tùy chọn. Ví dụ: mp4 splitterGabestHaali. Để biết cái này, xin hãy đọc lại bài trước. Nói vậy chứ cứ xài thử, chiêm nghiệm thì biết ! Mấy cái đó thì thường được sửa chữa, cập nhật bởi vậy hôm nay dở nhưng ngày mai thì ai biết được

Chúc vui vẻ!

Bài 3: Tìm hiểu về MPEG-4

MPEG-4 là 1 tiêu chuẩn nén âm thanh/ hình ảnh được thiết lập bởi tổ chức Moving Picture Experts Group gọi tắt là MPEG. Chuẩn này gồm nhiều tiêu chuẩn nhỏ, gọi là các phần của MPEG-4. Các phần đáng chú ý là:

  • Phần 2: codec cho dữ liệu trực quan(hình ảnh, ảnh động,…) Có tên thường gọi là MPEG-4 ASP. Cài đặt là DivX, Xvid, NeroASP..

  • Phần 3: codec âm thanh AAC. Cài đặt: Nero AAC, CT AAC(winamp xài cái này), Real AAC,..

  • Phần 10: 1 codec hình khác. Tên thường dùng là MPEG-4 AVC. Mục tiêu của chuẩn này là với bitrate 1 nửa những cho chất lượng tương đương với MPEG-4 ASP Cài đặt: Nero Avc, MainConcept, Elecard, x264(miễn phí, mạnh nhất)

  • Phần 12: container để chứa hình/tiếng, .mp4. Mp4box là chương trình miễn phí để mux/demux file mp4. GUI cho nó là YAMB

MP4 ở Việt Nam

Ở VN mình thì mp3 là dạng file âm thanh nhỏ hơn CD 10 lần mà chất lượng vẫn hay. Còn mp4 là dạng file video nhỏ hơn VCD 10 lần mà chất lượng vẫn tuyệt vời. Không tin thì bạn có thể vô tiệm bán đĩa, phim mp4 thì thấy các loại file có thể là :wmv, avi, rm,......

Nếu bạn có 1 file mpeg-4 chuẩn ISO thì container phải là mp4, âm thanh là AAC, hình thì mpeg-4 ASP hoặc là mpeg-4 AVC. Hiện nay, có rất nhiều phần mềm có thể chuyển đổi các định dạng khác sang mp4. Thực sự, các phần mềm này thường xuất ra file AVI, video thì xài DivX, âm thanh thì thường là mp3. AVI 0 phải là container chính thức của chuẩn MPEG-4.

AVI :

- 0 hỗ trợ VFR (variable frame rate, tốc độ hình thay đổi),

- và 0 thể chứa âm thanh AAC( nhất nhì thời nay).

- Nó cũng 0 hỗ trợ MP3 VBR. Có 1 số phần mềm đã hack và có thể nhét được: VirtualDubMod, Mencoder. Nhưng đáng tiếc là 0 có nhiều phần mềm nghe nhạc hỗ trợ dạng AVI như vậy

Vậy sao vẫn dùng? Vì nó “thâm niên”. Mp4 mới ra đời nên chưa được phổ biến và AVI là "con" của Microsoft mà !

Có ai ngon hơn mp4 0 ? Có! Đó là MKV. Tuy nhiên, không có nhiều máy nghe nhạc cầm tay hỗ trợ container này. Nói chung, để trao đổi file trên mạng, lưu trên máy thì MKV là tốt nhất. Nói tới đây, chắc cú là bạn cũng chưa 100% mê MKV hay MP4. Vì phần mềm nào hỗ trợ ? Làm sao để hát nếu có file này ? Quá dễ! Mời bạn xem lại bài nàybài này

Các bản AAC:

Nero AAC: miễn phí, hỗ trợ ABR, VBR,... âm thanh 5.1

CT AAC: Coding Technology AAC, hỗ trợ 5.1 nhưng 0 có VBR. Được dùng trong winamp, tức cũng miễn phí

Real AAC: cũng miễn phí nhưng hình như chưa hỗ trợ VBR và chỉ có 2 kênh

.......

Các bản MPEG4- AVC: ngon nhất là x264 mà lại miễn phí

Vorbis: cũng miễn phí

GUI để encode âm thanh:

Belight: GUI của Besweet

BeHappy: mở file bằng DirectShow, Avisynth--> encode tất cả các dạng file

MediaCoder: encode tùm lum, chuyện gì làm cũng được.

GUI để encode video:

Xvid, x264: Megui(chuyên MPEG-4), MediaCoder

Thứ Bảy, tháng 7 21, 2007

Bài 5: Megui-chương trình chuyển các định dạng sang MP4 và MKV

Yêu cầu:

- Cài AviSynth trước tiên! Nếu chưa biết về Avisynth thì nên đọc bài giới thiệu về nó.

- Cài đặt các filter để AVISynth mở được tất cả các loại file

- Bạn đến http://x264.nl để download Megui và x264.exe bản mới nhất.

- .NET FrameWork để chạy chương trình Megui. Xài .NET nhưng bạn đừng sợ chậm vì chức năng của Megui chỉ là giao tiếp với người sử dụng còn các thành phần thực sự chuyển dạng file được viết bằng VC++. Các thành phần khác đều là phần mềm mã nguồn mở, đều hoàn toàn miễn phí.

Trên là các thành phần cần để dùng các chức năng cơ bản. Megui có thể sẽ báo thiếu file. Khi đó, bạn có thể vào google gõ tên file thiếu là có ngay.

Thiết đặt đường dẫn cho Megui: bạn chọn menu Tools/Settings/Program paths. Bạn chỉ cần chọn đường dẫn cho x264.exe và DGIndex(thường là c:\program files\AviSynth 2.5\plugins)

Quy trình làm việc: Tạo file AVS--> cấu hình codec,...--> nhấn enqueue--> chạy job

Giao diện 0 có gì khó hiểu! Có 3 thẻ(tab)Input, Queue và Log.( queue nghĩa là hàng đợi)

Thẻ input cho phép bạn tạo 1 job. Bạn chọn file AVS, tên file đích, cấu hình codec,... Làm xong thì nhấn nút Enqueue, click qua thẻ Queue thì sẽ thấy 1 mục được thêm vào

Tạo file AVS

Nếu là file MPEG, MPG,DAT, VOB: click menu Tools/ D2V creator. Demux nghĩa là giải đa hợp, tức là split, tách ra. Đối với file .DAT thì bạn gõ vài kí tự đầu của tên file ở hộp thoại Open là mở được. Chạy job idx nhe! Nó sẽ tạo file .d2v

Để tạo file avs : menu Tools/ AviSynth Script creator

Crop nghĩa là cắt. Bạn hãy cắt bớt các vùng đen để file đích có kích thước nhỏ. Vùng đen lãng phí lắm!

Resize: co dãn

Mpeg options: nếu codec của file nguồn là MPEG và hình có “ô vuông” (block) thì chọn Mpeg2Deblocking, deblocking nghĩa là “chống ô vuông”

Thẻ Edit là nội dung của file Avs sẽ được tạo ra. Bạn vào xem hướng dẫn của Avisynth để biết thêm các hàm khác( ở thư mục của Avisynth á!)

Mẹo: bạn thêm vào file .AVS lệnh này để encode 1000 frame.u tiên Coi thử coi có được 0? Nếu được rồi thì mình encode hết

trim(0,1000)

Đây là 1 lệnh của AviSynth. Xem hướng dẫn để biết thêm các lệnh khác

Ở thẻ Input, nhấn nút Config để xác định thông số cho codec

Ở đây, tui chỉ hướng dẫn xác định thông số cho x264. Tui có chụp hình nè http://www.box.net/shared/d8a5hm4cm2 http://www.box.net/shared/cateh3zxh6


Mode:

xài constant quality là tốt nhất nhưng kích thước file là 0 biết trước.

Còn ABR là bitrate trung bình. Nhân với thời gian là biết được kích thước file. Ở chế độ này, codec sẽ tiên đoán khung hình kế tiếp sẽ như thế nào. Do “bói toán” nên hơi dở.

Còn 1pass, 2pass, 3pass ? Đó cũng là ABR. Đầu tiên, chạy 1pass, rồi chạy 2pass, hoặc chạy thêm 3pass thì mới thu được file đích. pass 1, codec sẽ xem xét tổng quát còn ở pass 2, pass 3 thì mới thật sự encode. Pass thứ 3 chỉ được xài khi video của mình có chất lượng rất thấp, hoặc là bitrate mình chọn quá thấp. Nếu ngược lại thì chất lượng cải thiện so với pass 2 là rất ít mà thời gian thì “siêu tốn”

AVC profiles, AVC level: chọn tối đa thì sẽ dùng được hết khả năng của codec--> nén nhiều nhưng máy yếu thì hát 0 được: như máy ipod, các máy nghe nhạc cầm tay,... Còn trên máy vi tính thì vô tư.

RC and ME, Quant options, Number of reference frames: chọn số frame tham khảo. Một cách để tăng hiệu suất nén là chỉ lưu những gì thay đổi. Thay vì nén hoàn toàn mỗi frame. Người ta coi frame sau khác với frame chỗ nào rồi nén phần đó thôi! Ví dụ: phát thanh viên trên truyền hình, chỉ có cái miệng là thay đổi nhiều thôi còn hình nền và logo HTV7 thì y nguyên,...

Nếu nội dung là đời thường thì chọn cỡ 3 là được. Đối với hoạt hình thì có thể tăng lên. Chọn nhiều quá thì tốn thời gian nhe!

RC and ME, Quant options,CABAC : tùy chọn này tăng độ nén nhiều. Nếu video có kích thước lớn như 1024x768 hoặc hơn nữa thì đừng chọn cái này. Khi xem sẽ tốn rất nhiều CPU. Máy yếu thì coi 0 nổi

RC and ME, Quant options, Misc, Keyframe Interval và Min GOP size: Min GOP size là framrate, ví dụ video có tốc độ hình là 29.970 thì mình chọn là 30. Còn Keyframe Interval thì gấp 10, ở ví dụ này thì ta có 300. Hai cái này cho biết khi nào thì chuyển cảnh

Advanced, B-frame, Number of B-frame, chọn 5 là được. Có 1 số video được làm từ 1 loạt các hình bmp, jpeg,... thì mình thấy rõ từng hình thay đổi---> chọn hết ga, 16 luôn! Lúc đó, tốc độ encode là rất nhanh :D Một số video hướng dẫn học làm bằng fle avi mấy GB mà nén file rar chỉ còn vài MB thì bạn cũng làm theo cách này. File nén hay không nén bằng winrar vẫn chỉ có vài MB.

Advanced, Quantizer Matrix: xài thêm cái này thì tốc độ nhanh, chất lượng cao, ổn định hơn.

Về cài đặt thông số, bạn có thể tham khảo thêm:

- Tài liệu của DeadTheSheep cho x264 VFW

- http://www.digital-digest.com/articles/x264_options_page1.html

- http://forum.digital-digest.com/showthread.php?t=67180

-Hướng dẫn MeGUI ở Wiki

- Forum doom9 http://forum.doom9.org , forum con MPEG-4 AVC. Đây là chỗ thảo luận của những người viết x264. Người rõ các thông số thì còn ai vào đây nữa?



Bài 6: Hướng dẫn sử dụng BeHappy

Yêu cầu hệ thống
Cài đặt
  • Download và extract bản BeHappy mới nhất từ from BeHappy Workspace
  • Download và extract NicAudio.dll mới nhất từ BeHappy Workspace, đặt NicAudio.dll ở thư mục plugins của AviSynth
  • Nếu bạn muốn dùng chức năng chuyển Stereo sang 5.1 UpMix, download và extract SoxFilter mới nhất ở đây, đặt ở thư mục plugins của AviSynth
  • Tương tụ, để dùng AudX MP3 5.1 surround encoding , download rồi extract enc_AudX_CLI mới nhất ở BeHappy Workspace, để enc_AudX_CLI.exeaudxlib.dll vô thư muc BeHappy
  • Nếu muốn dùng MP3, download rồi extract Lame encoder ở rarewares (bản khuyên dùng là 3.97b2). Đặt lame.exe vô thư mục BeHappy
  • Nếu muốn dùng OggVorbis, download rồi extract OggEnc2 ở rarewares, đặt oggenc2.exe vô thư mục BeHappy. Cái này thì tui thích cái OggEnc mod hơn
  • Nếu muốn dùng FLAC, download and extract FLAC coder, để flac.exe vào thư mục BeHappy
  • Nếu muốn dùng WavPack, download rồi extract WavPack encoder, để wavpack.exe vô thư mục BeHappy
  • Nếu muốn dùng Coding Technologies AAC encoder
    • Download rồi extract enc_aacPlus mới nhất ở BeHappy Workspace, để enc_aacPlus.exe vô thư mục BeHappy
    • Download rồi extract GPAC's MP4Box mới nhất , để mp4box.exe vô thư mục BeHappy
    • Download rồi install WinAmp player (Bản Full là đủ)
    • Chép enc_aacplus.dllnscrt.dll từ Winamp\Plugins vô thư mục BeHappy
    • Nếu 0 muốn dùng WinAmp, bạn có thể "vô tư" mà uninstall nó
  • Nếu muốn dùng Nero AAC, download rồi extract FREE NeroDigital AAC, đặt neroAacEnc.exeneroAacEnc_SSE2.exe vô thư mục BeHappy
Đây là bản BeHappy do tui dịch, bản mới nhất đó. Hiện, Behappy được 1 số người cải tiến nhưng 0 upload lên GotDotNet
Chú ý: khi mở hộp thoại File, bạn chọn source là DirectShow thì sẽ mở được tất cả các file. Muốn máy mình hát đủ loại file thì đọc bài "Hát đủ loại file"

Thứ Bảy, tháng 6 09, 2007

Bài 8: GUI để mux/demux Mp4, MKV

Đây là 2 GUI để trộn, trích xuất file mp4, mkv
YAMB
MKV . Phần MKV có 2 phần: merge và extract. MKVExtract và MKVMerge . Mấy cái này rất phổ biến. Quy tắc chung: mấy phần mềm mà tui nói đều rất nổi tiếng. Vô google gõ tên là có thôi!
Chúc mọi người vui vẻ với các GUI này!

Bài 7: Hướng dẫn sử dụng BeLight

Tính năng :
- Đầu vào AC3, WAV, OGG, MP2, MP3, AVI, VOB, LST & MUX
- Đầu ra: AAC/MP4 (3GP Reference, Faac, Nero Digital và encoder WinAmp), AC3, MP2 (tooLame hoặc MP2Enc), MP3 (Lame), VORBIS, WAV và AIFF.
- Hầu hết các chức năng của BeSweet (Gain, SSRC, Boost, Partial Encoding, thay đổi Frame Rate, Soundtouch...)
- Hỗ trợ đa ngôn ngữ (Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ba Lan, Nga, Bồ Đào Nha, Slo-va-ki-a, Séc-bi, Ý, Nhật, Hy Lạp, Hà Lan,... mời mọi người dịch thêm các ngôn ngữ khác )
- Tự tìm delay của file vào
- Một vài thiết đặt sẵn cho AAC/AC3/MP2/MP3/VORBIS/WAV
- Trộn File từng bước có hướng dẫn (ở bản 0.22)
- Bộ tạo danh sách File(ở bản 0.22)


Chú ý :
- Hiện tại, nhánh BeLight 0.22 0 hỗ trợ đầu vào là AVI, VOB . Nếu muốn dùng các dạng này, đề nghị dùng BeLight bản 0.21
- Để dùng file đầu vào là AVI và VOB, bạn cần VOBinput.dll.
- Để dùng Q với giá trị âm khi encode Vorbis, cần có libvorbis.dll .
- Nếu 0 thể vô CoreCodec.org, bạn có thể lấy bản ới nhất ở đây here.
- Có 3 gói hiện thời ở CoreCodec.org (Normal, Lancer and P4). Khác biệt chính ở 3 bản là libvorbis. Bản Normal tương ứng với normal libvorbis.dll, Lancer được tối ưu cho tốc độ nhưng chất lượng vẫn giữ nguyên and bản P4 thì libvorbis.dll được tối ưu cho Pentium4 . Ngoài ra, tất cả các bản đều dùng các cải tiến của AoTuv

Dùng nó ra sao ?
Đầu tiên, lấy bản BeSweet mới nhất DSPGuru web Site.Rồi , đặt BeLight vô chung thư mục của BeSweet rồi chạy Belight
Hoặc bạn có thể cài trực tiếp từ các gói BeLight ở CoreCodec.org.

Bản mới nhất http://coreforge.org/projects/belight/

Bài 4: Giới thiệu sơ về AviSynth

AviSynth là chương trình dựa trên DirectShow của Microsoft. Nôm na Avisynth đọc file cần chuyển rồi cung cấp trực tiếp cho chương trình chuyển dạng. Ví dụ : bạn muốn chuyển MPEG sang MP4 nhưng chương trình A nào đó của bạn 0 đọc được file MPEG mà chỉ đọc được AVI. Khi đó bạn phải dùng 1 chương trình khác chuyển MPEG sang AVI. Sau đó mới chuyển AVI sang MP4 . Chuyện coi có vẻ cũng đơn giản nhưng giả sử file AVI quá lớn, hơn 4GB thì sao ? Khi đó Window 0 quản lý nổi, hoặc lớn hơn đĩa cứng thì sao ?
AviSynth
sẽ 0 làm như vậy mà nó cung cấp trực tiếp cho chương trình encode. Tức đầu ra của Avisynth được đưa thẳng tới đầu vào của chương trình encode, 0 cần lưu xuống đĩa. Chức năng như vậy người ta gọi là Frameserver. Dĩ nhiên, bản thân chương trình encode phải có khả năng nhận hình ảnh thô! AviSynth sẽ dùng filter để đọc MPEG rồi giải mã(cũng bằng filter) thành hình ảnh thô(raw image) mà cung cấp cho chương trình encode

Avisynth dựa vào Directshow để đọc file nên tất cả những file hát được trên máy bạn thì nó đều đọc được. Điều đó có nghĩa là MeGui có thể chuyển dạng tất cả dạng file. Muốn máy hình hát đủ loại file thì cần cài Filter cho từng loại file. Mấy cái này có trong K-lite codec pack ! K-lite bao gồm rất nhiều món : codec dạng DirectShowFilter , ACM (audio compressor machine) .....
Avisynth bao hàm rất nhiều hàm bao gồm bộ lọc nội bộ (internal filter) và bộ lọc ngoại (external filter) . Bộ lọc internal được tích hợp sẵn nên khi cài Avisynth thì xài được ngay. Còn các bộ lọc external thì phải chép thêm. Các bạn down file của filter đó rồi extract file .dll vô thư mục plugin (thư mục con của thư mục avisynth)
Bộ lọc internal

Bộ lọc external
Nói chung, cứ đi lòng vòng trên trang wiki là có hết hà ! Muốn cập nhật tin tức thì vô forum.doom9.org vì chỗ này là chỗ hỗ trợ việc phát triển Avisynth, tức là "bảo kê" á !

Avisynth có hàm nội bộ để mở file AVI. File MPEG thì có thể dùng hàm MPEG2Source. Còn các file khác thì dùng hàm DirectShowSource. Hàm này có nhược điểm là bỏ bớt khung hình(frame) khi máy nặng. Theo mình đoán là vậy! NÊn xài hàm này thì hình và tiếng rất dễ bị lệch mặc dù đã encode riêng. Gần đây, người ta đang phát triển hàm FFMPEGSource để mở file. Cái này dĩ nhiên là dựa trên các libavcodec (library audio video codec). Hàm này mở file không bị mất khung hình nhưng hiện tại với 1 số file chưa tốt lắm: wmv,.. Dù sao, nó cũng làm vệc tốt với MKV, MP4

Bài 2:Một số khái niệm thường gặp trong lĩnh vực âm thanh, hình ảnh

Thuật giải nén mất thông tin và bảo toàn thông tin: Nén thì chắc ai cũng từng nghe qua. Nôm na, nén là làm giảm dung lượng đĩa cần thiết để lưu 1 thông tin nào đó. Các thuật giải giải nén bao gồm 2 loại: bảo toàn thông tin lossless và mất thông tin lossy. Để cho ngắn gọn, thuật giải nén kiểu bảo toàn thông tin gọi là thuật giải lossless, còn kiểu mất thông tin gọi là thuật giải lossy. Chắc là ai cũng biết phần mềm nén file nổi tiếng Winrar. Winrar là 1 thuật giải lossless. Đối với các thuật giải lossless thì sau khi giải nén, thông tin thu được sẽ giống như thông tin ban đầu. Ngược lại, thông tin sau khi giải nén thì không giống với thông tin gốc nếu ta dùng thuật giải lossy. Nếu bạn có 1 cuốn sách hay 1 hóa đơn thì 1 điều chắc chắn là bạn sẽ không dùng thuật giải lossy. Lý do vì sao thì dễ hiểu. Tuy nhiên, đối với dữ liệu hình ảnh, phim, âm thanh thì các thuật giải lossy được áp dụng rất rộng rãi vì hiệu suất thường rất cao--> file kích thước nhỏ--> ta không cần đĩa, CPU, RAM tốc độ cao để xem phim hay nghe nhạc. Có thể bạn sẽ hỏi “sao mất thông tin mà mình coi vẫn biết được, nghe vẫn biết là ca sĩ nào?” . “Tinh thần làm việc” của các thuật giải lossy là loại bỏ các chi tiết ít nhạy đối với tai, mắt con người như âm thanh tần số thật cao hoặc thật thấp, cảnh tối, sự khác biệt màu sắc. Đó! Bỏ như vậy thì 0 ảnh hưởng nhiều.

Codec là từ được rút gọn từ cụm từ COmpressor/ DECompressor. Từ này được dùng chỉ chung những phần mềm, phần cứng làm nhiệm vụ nén/giải nén. Thuật giải hoặc các chuẩn nén như MPEG-1, MPEG-4 chỉ là các bước, phương pháp, tính năng, tức chỉ là trên “giấy tờ” . Như vậy, Codec là sự hiện thực các thuật giải, chuẩn nén, là các phần mềm, là các phần cứng. Các "Codec video" nổi tiếng là MPEG4-ASP, MPEG4-AVC, Window Media Video, RealVideo,.. Các "Codec audio" nổi tiếng như Window Media Audio, RealAudio, AAC, Vorbis,..

Mỗi chuẩn nén đều có dạng file đặc trưng. Ví dụ, chuẩn nén Window Media Audio thì có dạng file .WMA, chuẩn Window Media Video thì có dạng file .WMV, chuẩn audio Vorbis thì có dạng file .OGG;

Container là 1 chuẩn file. Nó có thể lưu trữ thông tin video/audio bất kỳ mà 0 cần quan tâm tới video/audio đã được tạo ra bằng cách nào. Chúng ta thường hay lẫn lộn giữa dạng file và chuẩn nén. Ví dụ: khi nhìn file .AVI, .MKV thì mình cứ nghĩ là có chuẩn nén AVI, hay chuẩn nén .MKV. Thực sự, AVI và MKV là các container, nghĩa gốc là "cái chứa" hay "cái đựng", tạm gọi là dạng file. Có quá nhiều chuẩn nén và chuẩn file nên có thể xem container là 1 sự “thâu tóm” các chuẩn nén video, audio. AVI là 1 dạng file rất thông dụng trên mạng. Mặc dù, AVI có thể chứa được nhiều loại video nhưng gần như, người ta chỉ dùng nó để chứa video DIVX, XVID. Nhược điểm của AVI là không thể chứa được âm thanh AAC, Vorbis.

MKV có thể chứa video kiểu Window Media Video, DivX, Xvid, H264/AVC, RealVideo,... WMV cũng là 1 dạng file nhưng WMV không thể chứa video MPEG4-ASP(XVID, DIVX), MPEG4-AVC(H264), RealVideo. Qua trên, ta có thể thấy MKV là dạng file đa năng nhất hiện nay. Nó có thể chứa bất kỳ loại video, audio nào

Tóm lại là vầy:

-WMV là 1 từ dùng để chỉ container wmv, những cũng là từ chỉ codec của MicroSoft: wmv1, wmv2, wmv3,..

-Thường thì tên codec và tên container trùng nhau nên mới dẫn tới sự hiểu lầm như vậy! Với vorbis thì khác à nhe! Tên codec là Vorbis nhưng container chính thức là .OGG.


Để biết file mình chứa gì thì dùng: Gspot, Avicodec, MediaInfo(tốt nhất). Tất cả đều miễn phí

Encode, Transcode, Compress: Encode nghĩa là sản sinh mã(code). Transcode nghĩa là chuyển mã. Còn compress nghĩa là nén. Nhiều bạn (cả tui) sẽ thấy nhiều lúc file nén lại có kích thước hơn file gốc?
Để hiểu điều này, ta so sánh 2 quy trình sau:

Quy trình xem 1 phim:

File phim --> tách hình và tiếng --> hình sẽ được codec hình giải mã rồi gởi ra màn hình, còn tiếng được codec âm thanh giải mã thành PCM và đưa ra sound card.

Quy trình nén xem 1 file .doc nằm trong file RAR

Double click lên file RAR, rồi double click file .doc--> giải nén file .doc vào thư mục tạm---> kêu MS Word mở file .doc mới vừa bung ra

Bạn mở 1 file .rar chứa 1 file .doc. Bạn double click vô file .doc đó --> Winrar sẽ giải nén file .doc ra thư mục tạm, rồi bật Word lên. Vì sao ? Vì Word 0 thể hiểu .rar. Nó chỉ hiểu .doc thôi! Nó chỉ hiểu được thông tin được tổ chức theo kiểu .doc, chứ 0 hiểu được thông tin được tổ chức theo kiểu .rar. Chỗ này hiểu hôn ? Phải biết hiểu tập tin là gì nhe! Tập tin là “tập hợp các tin tức lại” ,

Màn hình cũng vậy! Nó chỉ hiển thị được khi mình cung cấp cho nó thông tin màu sắc của từng điểm. Sound card cũng vậy! Nó chỉ hiểu được âm thanh PCM(âm thanh thô trên máy tính)

Quy trình làm việc của 1 chương trình biên tập hình/tiếng: giả sử có file MPG rồi chuyển thành DivX/ MP3

  • Giai đoạn 1: File MPG--> giải nén hình MPEG ra dạng thô, âm thanh MPEG ra dạng PCM bằng decoder(bộ giải mã)
  • Giai đoạn 2: hình đưa cho encoder DivX, còn âm thanh đưa cho LameMP3

Nén file zip bằng Winrar: giả sư bạn có 1 file .doc, nén thành .zip, rồi nén file .zip thành .rar

  • Giai đoạn 1: .doc --> zip bằng Winzip
  • Giai đoạn 2: Winrar sẽ nén .zip thành .rar

Bạn có thấy sự khác nhau không? Winrar đã 0 giải nén file .zip thành .doc rồi sau đó nén .doc thành .rar . Nó làm việc trực tiếp trên file .zip

Rõ ràng, DivX/Mp3 làm việc trên dữ liệu thô, chứ 0 phải là hình MPEG/âmthanh MPEG . Do đó, nếu DivX/Mpeg mà “yếu hơi” hơn MPEG thì chắc cú file thu được sẽ bự hơn file-gốc. May thay là hổng có :D Nếu file gốc là WMV mà thành MPEG thì bự là chắc cú. (WMV --> MPEG, là burn đĩa video từ WMV đó)

Hãy xem xét quy trình làm việc này: gốc--> MPEG-->giải nén MPEG--> encoder WMV --> giải nén thì có thu được như gốc 0? Không! Vì MPEG là 1 thuật giải lossy, do vậy mà hình ảnh cung cấp cho encoder WMV đã 0 còn như gốc. Một lần nữa, WMV lại là encoder lossy. Bởi vậy, khi xem file WMV tạo ra ở trên thì sẽ thấy càng khác xa so với gốc. “Khác” thường là tệ hơn :D
Bởi vậy, thực sự nếu biên tập, chuyển đổi định dạng video/audio thì thực sự là “encode”. Nếu cho chất lượng tương đương thì là “transcode”. Khi nào mới kêu là “compress” ?....

Encoder lần hai tốt hơn nhưng file đích vẫn lớn là sao? Chắc là do bạn chưa cấu hình cho encoder.

CBR, ABR, VBR:
constant bitrate: tốc độ bit cố định.
avarage bitrate: tốc độ bit trung bình
variable bitrate: tốc độ bit thay đổi
Khi điều chỉnh thông số cho encoder thì ta hay gặp mấy từ này. CBR sẽ kêu encoder lấy thông tin đều đều trong khi dữ liệu thực tế thì 0 “đều”. ví dụ: đoạn yêu đương thì im hơi lặng tiếng, đoạn ở chợ thì ồn ào. Rõ ràng chỗ im lặng thì 0 nên lấy dữ liệu nhiều. Giả sử, đoạn này dài 10s, bitrate là 100kbs thì ta phải dùng 1000kb để lưu đoạn này. Ở chỗ im lặng, dữ liệu đa số là 0, lấy nhiều thì chỉ toàn số 0, mà lấy kĩ thì tai người cũng khó mà phân biệt được sự khác nhau.
Còn ABR, encoder sẽ lấy thông tin nhiều ít tùy theo chỗ nhưng bitrate cuối cùng là biết được( do bitrate của nó trung bình mà!)
Cuối cùng là VBR, bitrate thay đổi nên kích thước file là 0 biết trước được(cũng tùy theo codec). Hiện nay, các encoder thường có thêm chế độ Q. Cái này là tốt nhất

GUI là gì ? Nếu xài các chương trình do tui giới thiệu, hoặc là có vô forum thảo luận thì rất hay gặp từ này. GUI là viết tắt của chữ Graphics User Interface, nghĩa là giao diện người dùng dạng đồ họa. Giao diện là phần giao tiếp với người dùng, nhận yêu cầu và thông báo cho người dùng. Giao diện đồ họa là các hộp thoại thông báo, các nút nhấn, các icon trực quan, dễ hiểu mà ta thường xài hàng ngày. Chương trình thường gồm=codec + giao diện. GUI sẽ nhận yêu cầu của người dùng, cho phép người dùng điều chỉnh thông số codec, .... Khi bạn yêu cầu nó encode thì GUI sẽ giao việc cho codec. Sở dĩ, phân chia nhiệm vụ như vậy thì chắc là ai cũng đoán được. “Chia để trị” cho khỏe! Mỗi người một việc, 0 phải ôm đồm quá nhiều thứ.

Một số GUI như Megui, BeHappy, BeLight, MKVExtractGUI. Nếu bạn download Belight về mà xài không được thì bình thường. Vì nó là GUI của BeSweet. Nếu bạn chưa có BeSweet thì hãy download về rồi để chung thư mục với BeLight là xài được. Thường thì “người làm việc” và “người giao tiếp” phải ở chung thư mục với nhau nhưng có 1 số GUI cho phép bạn chọn đường dẫn như Megui,..

Ngoài giao diện đồ họa thì còn loại giao diện nào nữa hôn? Có! Giao diện dòng lệnh(Command Line hay CLI) hoặc giao diện văn bản. cmd của Window là 1 ví dụ. Nếu bạn encode bằng Besweet, x264 thì bạn phải mở cmd lên, gõ, gõ. Trong khi nếu xài Megui, Belight thì ta chỉ cần click chuột thôi! Quá khỏe!

Chỉ có 1 số hãng lớn mới viết codec lẫn GUI: Nero, MainConcept, DivX.. Còn các phần mềm như Aurora Workshop , Blaze, VirtualDub, Megui chỉ là các GUI.

GUI ra sao mới là tốt? Các GUI thương mại thường rất đơn giản. Toàn xài profile. Bạn chỉ cần click 2-3 cái là xong. Các Profile đó 0 phải lúc nào cũng phù hợp. Virtual Dub, Megui cho phép chọn thông số cho codec. Dĩ nhiên thêm các tính năng khác như: co dãn, cắt, xén....

Bài 1: Sơ nét về hình ảnh trên máy vi tính

Trên máy tính, cái gì cũng rời rạc hết á ! Bạn thấy 1 tấm hình liền lạc nhưng dùng kính lúp coi thì lại thấy chỉ gồm những điểm nhỏ. Vì sao ta? Dễ ơi!  Do gần quá mà mắt người 0 phân biệt được. Mỗi 1 điểm gọi là pixel ,picture element nghĩa là phần tử ảnh. Tức là ta đã cắt 1 hình ảnh thực thành những điểm nhỏ. Bởi vậy nói sao khi phóng to hình ảnh trên máy tính thì lại bị răng cưa, lợn cợn

Như vậy 1 tấm ảnh trên máy vi tính thì thực ra là tập hợp nhiều điểm có màu sắc khác nhau. hỗ này hiểu hôn ?

* Vấn đề màu sắc của mỗi điểm . Từ ba màu cơ bản Red(đỏ), Green(xanh lá), Blue(xanh da trời) người ta có thể tạo ra màu sắc bất kỳ. Đèn hình màu thường có 3 ống tia điện tử cho 3 màu Red, Green, Blue. Để tạo 1 điểm sáng, 3 ống tia điện tử sẽ chụm lại 1 chỗ. Màu của điểm đó là sẽ là tổng màu của 3 ống tia điện tử .Ta cứ cho hiện nhiều điểm với màu khác nhau thì thành 1 tấm ảnh.
Giả sử tấm ảnh kích thước 640x480, để mô tả màu sắc của 1 điểm thì cần 3 byte. Khi lưu thành file, kích thước file là: 640 nhân 480 nhân 3 = 900KB. Quá trời lớn ! Đây gọi là file raw ,dạng raw. Raw nghĩa là thô ! Tên của nó đã nói lên bản chất của nó. Ở đây, trong lĩnh vực tin học, thô ý chỉ cái ban đầu, chứ 0 phải "chất lượng thô thiển". File thô có kích thước rất lớn ,0 tiện cho việc lưu trữ hay phân phát nên người ta nghĩ ra "nén". Chuẩn nén hình ảnh tốt như jpeg ,png. Nhờ nó mà file hình thường chỉ cỡ vài chục KB. Mình xin nói sơ sơ về nén. Ví dụ như có dãy 0000 0000 0001 ,thì ta sẽ ghi lại 1101 ,tức là 11 số 0 .Đây là sơ sơ về phương pháp run-length . Phương pháp của Jpeg thì phức tạp hơn .Nó sẽ biến đổi màu sắc RGB thành YUB thì phải ,(quên rồi ) .Đây là 1 cách mô-tả màu-sắc giống với cảm-nhận của con-người hơn .Sau đó người ta xem thành phần nào mà con người 0 nhạy cảm thì bỏ đi . Tức là JPeg là 1 dạng nén mất thông tin .Do cách nén như vậy mà file kết quả 0 sao giống với file gốc được. Run-length là giải thuật nén 0 mất thông tin. Bmp là chuẩn xài phương pháp này. Tức là file bmp khi giải nén thì thu được thông tin hoàn toàn giống như cũ .
Không tin ,mấy bạn thử chụp màn hình của mình. Sau đó lưu thành dạng jpegbmp để so sánh. File Jpeg sẽ xấu liền trong khi Bmp thì y như cũ nhưng kích thước của Jpeg lại nhỏ hơn .

- Nhấn nút Print Screent, chữ này nghĩa là “in màn hình”.Nghe cái tên là biết làm gì rồi!
- Mở Paint, Program files/Accessories/ Paint
- Menu File /new,rồi paste ,sau đó lưu ,chọn file type as
- Paste lại và làm tương tự để có nhiều file rồi so sánh
Nếu hình ảnh có dạng không gian thì nén JPEG là số một ,vd: gương mặt người ,phong cảnh. Còn nếu có dạng đường cong ,đường thẳng thì PNG là số một .Gương mặt người mà phẳng sao được, đúng hôn ? Có cái sống mũi lồi lên, có gò má nhô lên .Nói chung gương mặt chỉ "phẳng cục bộ" thôi ! Còn các bản vẽ cơ khí ,điện tử hay là khi chụp màn hình của mình thì rõ ràng là "phẳng " ,có ít "tính không gian" .Coi mấy tấm này ít cảm giác về không gian ,về chiều sâu .Gif cũng như PNG nhưng Gif không hỗ trợ 16 triệu màu
Chính xác hơn: Có nhiều điểm gần nhau mà lại có màu giống nhau thì xài PNG .Còn nếu nó thay đổi ít thì xài JPEG
BMP 24bit màu: theo tui biết thì nó hoàn toàn 0 nén. Còn PNG là 1 chuẩn nén lossless. Trước tiên, PNG có khả năng nén--> kích thước sẽ nhỏ hơn BMP. Thứ hai, PNG nén 0 mất thông tin--> chất lượng như BMP

Nghe nhạc trực tuyến bằng FireFox

Kiểm tra plugin của FF:
Ở cửa sổ FF, gõ about:plugins vào thanh địa chỉ.
Cách làm nếu trang web xài plugin:
Bạn vào C:\Program Files\Windows Media Player tìm các file:
npdrmv2.dll
npwmsdrm.dll
npdsplay.dll
Rồi chép vô C:\Program Files\Mozilla Firefox\plugins

Nếu thiếu thì vô đây để download
npdsplay.dll ,
npwmsdrm.dll
npdrmv2.dll
Chú ý là các file trên có phiên bản mới hơn những file có trong đĩa XP
Giải quyết sự cố:


  1. Hình 0 hiện, giật

  2. - Click phải chuột phần WMP, chọn Option
    - Ở góc dưới là 'Video Acceleration' , kéo lên Full hoặc là zero

  3. FF hư, tự thoát khi xài WMP plugin:

  4. Thỉnh thoảng, lỗi này là do plugin Java. Bạn vô Control Panel, Java, Update, cập nhật là xong
  5. Bề ngoài có vẻ như là đang xài WMP bản cũ
  6. - Click phải chuột link này rồi chọn Save as
    - Double click vô file mới vừa down được, chọn Add
  7. "Can not create DirectShow Player"

  8. - Đọc và làm theo bài này
    - Hoặc là cài bản
    DirectX mới nhất
  9. Illegal operation in Windows Media Player plugin error

  10. Illegal Operation in Plugin
    Windows Media Player Plug-in Dynamic Link Library
    The plugin performed an illegal operation. You are strongly advised to restart Navigator.

    Cái này là do trình duyệt đã tắt JavaScript
    Click Tools > Options > Web Features , bật Javascript
    Xem lại các plug-in, extension của bạn có tắt Javascript hay không? Ví dụ: NoScript và Adblock Plus

  11. Nếu bạn đang dùng Windows XP Home N or Windows XP Professional N:

  12. Do quyết định của ủy ban Châu Âu, XP bán ở khu vực này 0 được kèm theo WMP. Bạn cài WMP rồi cài thêm bản update
    Coi chừng: cài cái update rồi nếu có gì thì cài lại XP đó nhe!
  13. WMP hiện nhưng click Play thì 0 chạy gì hết:

  14. -Kiểm tra bạn có ở chế độ off-line hay 0?
    - Kiểm tra proxy của IE có đúng hay 0?
    - Kiểm tra IE và WMP có bị FireWall chặn hay 0?
    Điều này có thể là do 1 số nhà cung cấp DSL/cable xài NAT 0 hỗ chuyển gói tin UDP đúng cách--> kêu thằng WMP đừng nhận dữ liệu theo kiểu UDP nữa
    • WMP, click Tools > Options
    • Chọn 'Network'
    • Click bỏ chọn 'UDP'

  15. FF lỗi rồi tự thoát khi hát WMV:

  16. Có thể là do cài VLC, plugin VLC xung đột với plugin của WMP. Điều chỉnh để VLC đừng hỗ trợ việc hát online trong FF nữa. Gỡ plugin của VLC ra. Tệ hơn thì gỡ VLC ra luôn
  17. Firefox 1.5.0.5: bản này bị lỗi . Nâng cấp lên bản mới

  18. Windows XP Media Centre Edition:
  19. Cập nhật cái này

Coi chừng: có gì thì cài lại XP nhe!


Cách làm nếu trang web xài ActiveX:
Firefox 1.0-1.0.8, 1.5-1.5.0.9
  • Bài hướng dẫn này chỉ áp dụng cho bản official mozilla.org milestone Firefox 1.0 đến 1.0.8 và Firefox 1.5 tới 1.5.0.9 chạy trên Windows.
  • Không có ActiveX plugin cho Firefox 1.0.5, 1.0.8 , 1.5.0.1 tới 1.5.0.9 nhưng plugin cho Firefox 1.0.4 , 1.0.7 , 1.5 hình như họat động tốt
  • The ActiveX plugin 0 tương thích với bản dịch của Moox . Độ tương thích với bản do người thứ ba phát triển thì 0 biết
  • Bản Firefox pre-1.0 (chạy trên Windows), xem bài này .
  • The ActiveX plugin cho Firefox 1.5 được xem là bản kiểm tra test version - vì vậy có nhiều những vấn đề 0 biết
  • Hầu hết các cách cập nhật FF tự động 0 gỡ ActiveX plugin. Do đó, 0 đảm bảo là plugin sẽ họat động tốt với bản FF mới. Khuyên bạn nên gỡ uninstall ActiveX plugin trước khi cập nhật FF. Bản ActiveX 0 thích hợp có thể khiến các plugin khác hoạt động 0 đúng
Cài plugin ActiveX
Kiểm tra plugin WMP xem sao
Tùy bản FF, click phải chuột để lưu file duới đây, rồi cho vô thư mục Extension. Nếu FF đang chạy thì phải tắt rồi mở lại
Đây là các ActiveX của Adam Lock dành cho bản FF chính thức. Hiện chưa biết bản ActiveX nào họat động tốt với bản FF không chính thức. Đây là hướng dẫn dành cho FF 0.9.x và 1.0PR
Kiểm tra ActiveX có cài tốt hay chưa ?
Chỗ kiểm ActivX-WMP
Nếu xem/nghe nhạc tốt thì an tâm rồi
Nếu 0 thì gõ about:plugins vào thanh địa chỉ của FF. Nếu hiện cái này thì đã cài xong xuôi

Gỡ plug-in AvtiveX
  • Đóng tất cả cửa sổ FF
  • Vô thư mục của FF(nơi mà bạn cài FF). Thư mục mặc định là 'C:\Program Files\Mozilla Firefox\'
  • Vô thư mục plugins và xóa file 'npmozax.dll'
  • Quay lại thư mục chính của FF, và vô thư mục components , xóa các file 'nsIMozAxPlugin.xpt' & 'nsAxSecurityPolicy.js'.
  • Quay lại thư mục chính của FF, và vô thư mục defaults\pref , rồi xóa file 'activex.js'.

Đây là bài dịch từ bài hướng dẫn ở forum Mozilla

Thứ Sáu, tháng 4 27, 2007

Coi phim có phụ đề bằng MPC

*Phim có mux phụ đề bằng MPC : đối với những file có mux phụ đề tức là file video chứa video, audio và phụ đề luôn ! 3 trong 1 ! Những container có thể làm chuyện này như mp4, mkv,...
---Cài Directvobsub(có trong k-lite codec pack). Vào menu Start/ programs / k-lite /configuration /directvobsub , thẻ general , ở dưới, mục "Loading", chọn Load when needed, nhớ chọn "Embedded"
Mở file video bằng MPC, menu Play/ Filter, D:\video.mp4 , chọn S:GPAC streaming text handeler ( giả sử bạn mở file video.mp4 , file này ở ổ D, và file đó được mux bằng mp4box. Nói chung, đừng chọn "No subtitle")
...Filter/ Directvobsub, chắc chắn là mục "show subtitles" được chọn

* Phim 0 có mux sẵn phụ đề, tức là video ở 1 file riêng và phụ đề ở 1 file riêng

Cách 1: để file phim và file phụ đề chung 1 thư mục(folder/directory), rồi mở mà coi :D
Cách 2:
Điều chỉnh để MPC hiển thị được phụ đề : menu view /options ,bên trái, playback , click output , chọn VMR7(renderless)** hoặc VMR9(renderless)**, tức là chọn cái có ** , nhấn OK , tắt MPC rồi mở lại

- Mở phim lên
- Menu File / Load subtitle, chọn file phụ đề
+ bước này cũng có thể chọn Play / Filter / chọn cái tựa như d:\codauhanoi.mp4... , chọn S GPAC streaming text. Tuy nhiên, hankuk thấy nếu xài CoreAAC pro thì nếu làm vậy thì MPC sẽ treo. Còn nếu xài CoreAAC 0.0.0.4 thì 0 sao , tức là xài bản CoreAAC có trong K-lite thì 0 sao

Coi xong thì chọn render overlay mixer nhe ! Xài cái VMR nặng máy lắm !

C o r e A V C pro
h t t p://www.box.net/public/f5tqfup0ae
mật mã là : meomeo
mấy bạn sửa thành http nhe ! Để tránh người ngoài dòm ngó. Nói thiệt, cái này hankuk lấy bên u p date so f t .com đó !

MPC có sẵn chức năng hiển thị phụ đề nên có thể 0 cần DirectVobsub mà vẫn coi được phụ đề. Tuy nhiên khi đó MPC sẽ ăn khá nhiều CPU và
- Phần directshow video phải là VMR7(renderless). Ở chế độ này, ta có thể xem phụ đề ở 1 file riêng, (File /Load subtitle)
- Card màn hình phải ở chế độ tăng tốc.
Nếu điều chỉnh để MPC hiển thị phụ đề bằng khả năng của nó và Directvobsub cũng có mặt thì có 2 hàng chữ hiện lên, hàng chữ do directvobsub sẽ 0 đúng. Khi đó .....Filter/ Directvobsub(autoload version), chọn "hide subtitles
Đã làm như tui nói mà vẫn 0 coi được ? chắc là do mã của phụ đề. Bạn hãy dùng Unikey để chuyển mã phụ đề thành Unicode thì coi được thôi! Khi làm, bạn phải chọn bảng mã nguồn, bảng mã đích. Làm sao biết được bảng mã nguồn ? Không biết ! Bạn cứ chọn đại vài cái. Làm xong thì mở file bằng NotePad xem có thấy chữ Việt hôn.

Thứ Tư, tháng 4 25, 2007

Làm sao để xem các trang web có chữ quá nhỏ?


Phải tăng cỡ chữ lên.
1. Nếu xài IE.
Menu Tool/ Internet Options/ Accessibility/ Ignore font size...
Menu View/ Text Size
2. Hãy xài FireFox
-Menu View/ Text Size.
-Phím nóng là Ctr và dấu + hoặc dấu -
Tăng bao nhiêu cũng được.
Với FF 3 thì tính năng phóng to phải nói là hoàn hảo.
FifeFox có lâu nhưng tui chỉ dùng gần đây. Từ khi viết những bài hướng dẫn này thì tui mới chuyển sang xài FireFox đó. Vì thường phải đọc hướng dẫn của tụi nước ngoài. Nhất là khi coi lại những bài viết của mình. Trời ơi! Mở bằng IE chờ nửa tiếng đồng hồ mà hình ảnh vẫn chưa hiện được. Trong khi đó, nếu xài FF thì ào ào, vù vù. Khi lưu web cũng vậy! Lưu bằng ông IE thì rất hay treo trong khi với FF thì là "ÀO ÀO, VÙ VÙ"
FF có nhược điểm là nếu file html có tên là ký tự unicode thì nó mở 0 được. Muốn mở những file như vậy:
- menu File của FF rồi mở
- hoặc là kéo thả file html vào FF

-Double click hoặc phải chuột Open with thì 0 được

Bạn hãy xài FF vì có 0 biết bao nhiêu món phụ kiện đi theo. Nếu bạn thường mở nhiều cửa sổ thì mỗi cửa sổ IE chiếm cỡ 23MB. Nếu xài FF, mỗi trang web là 1 Tab thì với 5 tab tốn cỡ 65MB. Trong khi đó bao nhiêu với IE thì dễ dàng tính được


Thứ Hai, tháng 12 04, 2006

Hướng dẫn chụp màn hình(capture screen)

Nếu muốn chụp màn hình Word, Excel,...
- nhấn nút "print screen". Nút nằm ở trên, bên phải của bàn phím.
- Mở Paint hay 1 chương trình xử lý hình ảnh nào đó ( start/program/accessary/pain), click menu Edir/paste, .
- File / save , nên chọn dạng file nào ? bmp hay jpeg ? hay png, xin hãy đọc bài đầu của chủ đề này
Giải thích : Khi nhấn nút "print screen", nội dung của màn hình sẽ được lưu vào bộ nhớ đệm của Window gọi là clipboard. Đây là vùng nhớ vùng chung của các chương trình chạy trên window. Đây là con đường để các chương trình chạy trên window trao đổi dữ liệu với nhau. Bạn cũng có thể mở Word và dán vẫn được
Bước 1: bước 1
Bước 2:bước 2
Bước 3:bước 3
Nếu muốn chụp 1 tấm hình khi đang xem phim:ở màn hình desktop, click phải chuột, chọn properties, thẻ sertting, bên dưới, bên phải, click nút Advanced, thẻ troubleshoot, kéo thanh trượt hardwareacceleration về null, ok.... Bây giờ cứ theo cách trên thì có thể chụp được hình từ chương trình xem phim
Bước 11:buoc 11
Bước 22:buoc 22
Bước 33:buoc 33
Giải thích: 0 biết :D
Chụp xong nhớ tăng tốc trở lại nhe ! Nếu 0 thì máy giật giật ráng chịu!

Xem film Xvid, DivX đẹp hơn

Điều chỉnh để decoder thực hiện deblocking lúc hát, tức là khi giải nén thì cho qua bộ lọc "chống ô vuông" trước khi hiển thị
Nếu xài Xvid decoder , menu Start của Win XP, program, K-lite, Configuration, Xvid Decoder, đánh dấu "Deblocking (Y)" và "Deblocking (UV)"
Nếu xài FFDshow, menu Start của Win XP, program, K-lite, Configuration, FFDshow, video decoder configuration, bên trái, click để đánh dấu "Postprocessing", click vô phần chữ "Postprocessing" thì nội dung bên phải sẽ thay đổi, click chọn Postprocessing
ff1

ff3

ff2

Decoder MPEG tốt nhất ?

Đó là decoder MPEG-2 của FFDshow . Thông tin có từ đây http://www.compression.ru/video/codec_comparison/mpeg-2_2006_en.html

Giới thiệu sơ sơ về FFDShow

FFdshow là 1 directshow filter . Cái này có trong K-lite Codec Pack.
Cái filter này có rất nhiều chức năng. Như đã nói trước đây, filter nghĩa là bộ lọc nhưng đây là danh từ để chỉ 1 mắc xích trong quá trình xử lý multimedia của kiến trúc DirectShow . Nó 0 hẳn phải là bộ lọc
--[*]Audio decoder configuration: dòm cái tên là biết làm gì rồi ! Bên trái chọn codecs, bên phải sẽ xuất hiện các dạng âm thanh mà FFdShow có giải nén. Nhiều thiệt há ! Muốn FFdshow là decoder cho dạng nào thì đừng chọn disable , chọn libavcodec
---------- output : Allow direct-to-file-output , chọn cái này khi xài FFDShow ở GraphEdit
---------- Equalizer : có thể đoán nếu chọn cái này thì FFdshow khi giải nén âm thanh thì tăng/giảm bass/treble luôn ! Đơn giản
--[*]Video decoder configuration: tương tự như audio thôi !
--[*]VFW configuration: điều chỉnh để FFDshow là VFW. Nhiều khi mình mở file wmv1 hoặc wmv2 mà máy mình 0 có thì VD sẽ báo lỗi. Khi đó hãy vô đây !

Hankuk thấy FFDshow khá hay nhưng hankuk thấy cái Decoder H264 của nó tốc độ chậm rì ! Hiện AVCcore ở K-lite là bản 0.0.0.4 . Hiện tại, đã có bản 1.1 nhưng $$$$$ . Hankuk cũng mong là sắp tới đây FFDShow có thể tốt như AVCcore
ff1
ff3
ff2

Thứ Bảy, tháng 12 02, 2006

Chọn splitter nào để xem .mp4 và .mkv ?

Hiện nay, có 2 splitter cho .mp4 và .mkv: Haali và Gabest. Gabest cũng là tác giả viết Media Classic Player (MPC) , 1 trình nghe nhạc nổi tiếng trong thế giới mã nguồn mở. Qua kinh nghiệm cho thấy các splitter của Haali tốt hơn.
Nhược điểm của slitter Gabest:
- Nếu .mp4 chứa ogg thì nó 0 biết=> hát 0 có tiếng. AVIcodec biết thông tin file là nhờ các splitter nên nó cũng nói là file 0 âm thanh. MediaInfo tự viết lấy splitter nên vẫn phát hiện được.
Vậy! khi cài K-lite nhớ chọn Haali nhe!